Phần bia đá

Bia đá khắc bài thơ Phạm Gia Trang được đặt ở chính giữa bức tường xây bằng gạch Phạm Gia Trang, bức tường này dài 14 mét, cao 4 mét; được gia cố thêm bằng bê tông và đá hộc.
Bia đá khắc hình tiên thiên bát quái

Bia đá khắc hình tiên thiên bát quái

Bên trái bài thơ này đặt tấm bia khắc hình Tiên thiên bát quái, bên phải bài thơ đặt tấm bia khắc hình Hậu thiên bát quái.
Tương truyền, Tiên thiên bát quái và Hậu thiên bát quái là do thánh Phục Hy, thánh Văn Vương vẽ ra đều có tám quẻ gốc; tên gọi mỗi quẻ đều như nhau:  Càn (trời)  -  Khôn (đất)  -   Li (lửa)  -  Khảm (nước)  -  Chấn (sấm)  -  Tốn   (gió)  -  Cấn (núi)  -  Đoài (đầm nước).
Chuyện về Hậu thiên bát quái người xưa kể lại rằng, Thánh Văn vương chính là Tây bá hầu Cơ Xương. Ông bị Trụ vương giam giữ ở thành Dĩu Lý (nay thuộc tỉnh Hà Nam - Trung Quốc), trong 7 năm ông đã nghiên cứu về quy luật phát triển của tự nhiên và con người mà vẽ ra Hậu thiên bát quái và 64 quẻ dịch. 
Hướng các quẻ gốc của Tiên thiên bát quái đều được ông sắp xếp lại, quẻ Càn không được đặt ở vị trí hướng Nam mà được chuyển về hướng Tây - Bắc; quẻ Khôn không ở vị trí hướng Bắc mà chuyển về đặt ở hướng Tây - Nam... Nói tóm lại trong Hậu thiên bát quái, quy luật sắp đặt của Tiên thiên bát quái bị phá vỡ; sự cân bằng, chỉnh chu không còn nữa.
 Việc giải thích sự sắp đặt này của Văn vương cũng có rất nhiều ý kiến khác nhau, gây tranh luận nhiều đời mà vẫn chưa có hồi cuối.
Như điểm thêm một mầu hoa, trong vườn hoa muôn mầu của Kinh dịch, quan điểm lý giải của cá nhân tôi thế này: ở thời của Văn vương, loài người tự hủy hoại xã hội của mình bằng các cuộc chiến tranh liên miên. Giai cấp thống trị phần đông lạc vào mê hồn trận của tính ác, luẩn quẩn trong các cuộc tranh giành đất đai, quyền lực. Tam cương, Ngũ thường bị coi như cỏ rác ; Thất quái, Lục tặc được mùa diễu võ dương oai, lộng hành làm loạn, xã hội thời kỳ ấy là một bức tranh loạn lạc. Hậu thiên bát quái của Văn vương chính là tiên đoán của ông về tương lai của một xã hội nhiễu nhương và biến động. 
Không biết duyên phận của tôi với Đức thánh Văn vương ở mức độ nào vì với sự suy diễn trên, tôi đã mạn phép Ngài ghi thêm bốn từ Tam tài tương hỗ ở dưới hình đồ Hậu thiên bát quái của ông. Đây chính là sự suy ngẫm của tôi về mối tương giao giữa con người với con người, giữa con người với đất - trời, sự tương giao này đến thời đại hiện nay thực sự làm chúng ta buồn lòng. Chúng ta đã khai thác khoáng sản, tài nguyên trên đất liền, trên biển, trên khoảng không quá mức. Rác thải công nghiệp ngày càng nhiều, gây ô nhiễm nghiêm trọng; làm cho trái đất nóng lên, thiên nhiên thì giận dữ. Bão lũ giờ đây xẩy ra liên miên, không còn quy luật như trước nữa. Nguy cơ chiến tranh, khủng bố vẫn là nỗi lo tiềm ẩn của thế giới. Tình trạng tham nhũng, bất công ở nhiều nơi nhiều chỗ đã là vấn nạn quốc gia. Loài người đang sống trong tình trạng ô nhiễm môi trường và phát triển không bền vững, tình trạng này nếu Liên hợp quốc không quan tâm kịp thời và đúng mức để có biện pháp khắc phục thì tương lai của nền văn minh trái đất nếu không bi đát thì mới là điều lạ.
Văn vương đúng là bậc Đại thánh, chỉ dựa vào 8 quẻ gốc của Bát quái, thời gian cách thế hệ của chúng ta hơn 3.000 năm mà ông đoán biết được tình hình lộn xộn của trái đất, loài người đang ở hiện nay. 
Âm Dương ngũ hành Bát quái và Kinh dịch là di thư của lớp Người Quân tử đi trước, với 64 quẻ dịch thực đã thâu tóm mọi lẽ huyền vi trong vũ trụ. Kinh dịch còn để lại hình mẫu ứng xử của con người trong xã hội, để cho xã hội loài người có thể trường tồn theo thời gian mà tạo hóa đã ban tặng. Kinh dịch chính là đạo xử thế của Người Quân tử trên cõi trần, nó cũng là tinh hoa của nền văn hóa phương Đông. Nếu được nghiên cứu kỹ lưỡng, sâu xa thì Kinh dịch chính là cứu cánh cho nền văn minh trái đất.
Từ xưa đến nay, với tám quẻ gốc của Hậu thiên bát quái, 64 quẻ dịch và 384 hào; người ta gieo quẻ có thể đoán biết việc trời, việc đất, việc người, việc của vạn vật. Bát quái là biển trời mênh mông kiến thức của tiền nhân, kinh văn vạn quyển cũng không nói hết được. 
Cho đến hôm nay, đã mấy ngàn năm trôi qua mà nhiều vấn đề của Bát quái, của 64 quẻ dịch; người ta vẫn còn tranh luận, bàn cãi và suy diễn chưa có hồi kết. Cũng chính thế, quyển sách Kinh dịch luận bàn về bát quái mới là thiên cổ kỳ thư, điều lạ chưa có tiền lệ trong lịch sử loài người. Bát quái là tri thức cổ quý báu của người xưa, là điều thú vị và đặc trưng của phương Đông; chính vì vậy, phương Đông vẫn mãi là phương Đông, không thể lẫn được trong thế giới muôn mầu này.
Ở Phạm Gia Trang, tôi đã đặt Tiên thiên bát quái và Hậu thiên bát quái như hai bảo bối bảo vệ ở hai bên công trình Nam Sơn âm dương ngũ hành bát quái.
Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
 
Giới thiệu

Giới thiệu về Phạm Gia Trang

  Năm 1997, do sức khoẻ suy giảm, tôi cùng vợ rời Hà Nội - nơi đang sống và làm việc, đi tìm một mảnh đất làm nơi nghỉ dưỡng lúc tuổi già. Tôi trở về thị xã Hoà Bình - miền đất cha mẹ tôi đã từng gắn bó và lập nghiệp trước đây - quê hương thứ hai cũng là nơi để lại trong tôi nhiều kỷ niệm thời...

  • Gửi người đọc hữu duyên

    Cũng bởi duyên phận, tôi đã đi xây dựng Phạm Gia Trang và được thấy những điều kỳ lạ, sâu sắc và thú vị. Trôi theo dòng đời mà ý nghĩ luôn trở lại với cội nguồn, trở lại với đạo đời Quân tử.

Tin mới nhất
Gửi người đọc hữu duyên

Gửi người đọc hữu duyên

Cũng bởi duyên phận, tôi đã đi xây dựng Phạm Gia Trang và được thấy những điều kỳ lạ, sâu sắc và thú vị. Trôi theo dòng đời mà ý nghĩ luôn trở lại với cội nguồn, trở lại với đạo đời Quân tử.

Chi tiết

Bình chọn

Đánh giá của bạn về vẻ đẹp của Phạm Gia Trang ?

  • Thiên đường là đây !
  • Tuyệt vời
  • Quá đẹp
  • Bình thường
  • Không có ý kiến
Thống kê truy cập

Đang truy cập Đang truy cập : 34


Hôm nayHôm nay : 79

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 1094

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 234355

Phạm gia trang và duyên phận
  • SUỐT ĐỜI MANG NẶNG MỘT CHỮ TÂM

    Tôi có duyên may được gặp, làm việc và gắn bó với anh từ những năm 90 của thế kỷ XX. Lúc bấy giờ, nước ta còn nghèo và khó khăn lắm. Tôi còn nhớ mãi cảm giác lần đầu gặp anh - một gương mặt đôn hậu, đôi mắt sáng và sâu thẳm; giọng nói vang, trầm ấm, rất rõ ràng, dứt khoát, ngắn gọn và có sức truyền cảm đặc biệt.